SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH: CUỘC CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG Ở XUÂN LỘC - PART 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6

  Gần đến thị xã Vũng Tàu, qua khỏi một khúc quanh không xa Trường Thiếu Sinh Quân cho lắm, cả một đại đội địch ở đâu không biết ào ra bao vây chiếc M113 do tôi dẫn đầu và mở đường cho Tiểu Đoàn Dù phía sau. Tuổi chúng còn thật trẻ, vài đứa mặc quần áo của ta trông thật không giống ai. Tôi lấy khẩu T38 nhét dưới đùi, trường hợp bất trắc có thể sử dụng ngay. Nhanh trí tôi liền đứng dậy đưa hai tay tỏ dấu thân thiện và la lớn:
- Bạn đây, bạn đây, đừng bắn !
- Một tên tiến đến gần có vẻ là cấp chỉ huy đã hỏi tôi:
- Bạn hả ? Mới lấy được tăng ngụy phải không ? Còn chúng nó đâu ?

  Tôi vẫn tiếp tục cứng với nó, mặc dù trong bụng hơi run, không biết có qua mặt nỗi bọn ác ôn này không. Tôi chỉ đại ra phía sau, bỗng dưng hắn tưởng thiệt, ra lịnh cho đám lính lui và dạt ra hai bên nhường đường cho xe tôi qua Như đã nói trên là đang ở khúc quanh, xe tôi và chiếc thứ hai khá xa nên không thấy gì hết. Tôi cầm khúc cây nhỏ khỏ vào đầu nón sắt của anh lính Thiết Giáp ra lịnh tống hết ga chạy về phía trước, rồi nói với anh hiệu thính viên liên lạc với chiếc thứ hai rằng bọn chúng đang phục kích trước mặt, hãy đề phòng. Như chuẩn bị trước, những chiếc kế tiếp tiến lên và khai hỏa vào hai bên đường. Bọn Việt cộng chết vô số kể và lẩn trốn để đoàn xe tiếp tục triệt thoái về hướng Vũng Tàu.

  Tới Bến Đá, giờ đây đủ các quân binh chủng của ta thuộc Quân Khu III, chưa kể một số đơn vị thuộc Quân Khu II và còn dân chúng nữa. Không thể tưởng tượng được, Thiết Giáp không còn đất sử dụng và cũng cùng đường rồi. Những tài xế lái thiết xa cho máy nổ, sang số cho xe chạy sát bờ biển, ra lịnh mọi người nhảy ra ngoài, xe tiếp tục lăn xích đi xuống lòng đại dương. Trung Sĩ Hai đứng chết lặng, hai hàng nước mắt tuôn rơi nhìn lần cuối chiếc M113 từ từ mất dạng trong biển nước mênh mông. Giờ thì Thiết Giáp theo lính Dù luôn, chúng tôi đi đâu họ theo đó. Hậu cứ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù ở Vũng Tàu đem thuyền nhỏ đến rước chúng tôi, vì không còn phương tiện hiện hữu nào có thể sử dụng vào lúc này. Lênh đênh ngoài khơi cả buổi, liên lạc nghe ngóng, tình thế hoàn toàn tuyệt vọng. Rồi bản tin nghe được từ máy radio bỏ túi, lịnh Tướng Minh tuyên bố buông súng đầu hàng. Thôi hết rồi. Tiểu Đoàn 9 thuộc Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù quăng tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng xuống biển và tự ý tan hàng sau lời nhắn nhủ đầy xúc động của Thiếu Tá Đường Tiểu Đoàn Trưởng. Chúng tôi giã từ vũ khí một cách bất đắc dĩ ngoài khơi Vũng Tàu, không đầy hai hải lý cách đất liền. Ngoại trừ một số chết và bị thương, quân số Tiểu Đoàn còn 80%.

  Viết để hồi tưởng lại, người sống cũng như người chết, bạn hữu, thân bằng quyến thuộc đã hy sinh cho Chính Nghĩa Quốc Gia và Dân Tộc. Tin vào ngày mai, tất cả sẽ đổi thay như luật trời đã định. Đoàn quân ta sẽ trở về trong danh dự và bọn cộng sản không còn hiện hiện trên đất nước thân yêu của chúng ta nữa.

  Ngày 25.4.1975, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù được xuất phái ra khỏi Sư Đoàn 18 Bộ Binh, di chuyển về bảo vệ Vũng Tàu. Trước đó, trưa ngày 22.4.1975, một chiếc C 130 chở một trái bom CBU 55 bay lên vùng trời Long Khánh và đã thả nó lên chỗ tình nghi là Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 341, mà đang đóng ngay ngoại ô tỉnh lỵ Xuân Lộc. Tấm thảm lửa phosphor từ trái bom vỡ bùng lên và ngay lập tức, một khoảng không gian bị hút lấy dưỡng khí từ đám lửa, đã làm cho binh đội Việt cộng bên dưới ngã lăn ra chết vì ngạt thở. Tổn thất của Sư Đoàn 341 thật khủng khiếp, 250 cán binh cộng quân chết trong những tư thế đau đớn. Sau GBU 7 tấn, thì CBU 55 là loại bom sát thương chống người, trong nỗ lực ngăn chống làn sóng cộng sản quốc tế. Nhưng một vài trái bom đó không đủ làm thay đổi tình thế, mà chỉ kéo dài thêm thời gian hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa. Cũng trong ngày 22.4.1975, Trung Đoàn 8 Bộ Binh và Chiến Đoàn 322 của Đại Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng đã chiếm được Hưng Nghĩa, nhưng được lệnh rút quân ngay về bảo vệ Biên Hòa.

  Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Chế nhận lệnh Chuẩn Tướng Đảo đang bay chỉ huy trên C&C rời bỏ con đương Liên Tỉnh Lộ 2 chia thành nhiều nhóm nhỏ cắt đường rừng mà đi. Cộng quân cứ ra rả gọi loa kêu đích danh Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế bó tay qui hàng. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 2/43 cực nhọc chiến đấu liên tục đến ngày 23.4 mới về đến được Phước Tuy, quân số hao hụt đến hơn 50%. Một con số hết sức đau xót cho số thân nhân của các tử sĩ đang ngóng trông các anh ở hậu cứ Long Bình. Cuộc hành quân hoàn tất buổi chiều ngày 21.4.1975. Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã phải bỏ ra ba ngày để tái trang bị, bổ sung quân số tại Long Bình. Ngày 24.4.1974, chiến sĩ Sư Đoàn nhận được tin vui. Tổng Thống Trần Văn Hương đến Long Bình vinh thăng đặc cách Thiếu Tướng cho Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và thăng thưởng nhiều chiến sĩ hữu công khác.

  Nhớ lại mười hai ngày đêm chiến đấu tại Long Khánh, các chiến sĩ bộ binh dưới sự hỗ trợ của trên 600 phi xuất Không Quân, Pháo Binh và Kỵ Binh, đã bắn cháy hơn 30 xe tăng địch quân, tiêu diệt 10,000 quân giặc. Sư đoàn di chuyển về khu vực Sài Gòn để chuẩn bị đánh những trận đẫm máu cuối cùng bảo vệ thủ đô. Sáng ngày 30.4.1975, các đơn vị sư đoàn đang trấn giữ khu vực Nghĩa Trang Quân Đội trên xa lộ Biên Hòa, thì Thiếu Tướng Đảo nhận được điện gọi của Đại Tá Lê Xuân Hiếu báo tin Tướng Dương Văn Minh đã đầu hàng giặc và lệnh cho toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải buông súng “ai ở đâu thì ở đó chờ quân giải phóng đến bàn giao”. Trong một nỗ lực cuối cùng, Thiếu Tướng Đảo cố gắng liên lạc với các Trung Đoàn Trưởng, nhưng các đơn vị đều đã tan rã. Vẫn không chịu khuất phục và bỏ cuộc, trong bộ quần áo dân sự, Thiếu Tướng Đảo tìm cách về đến được Cần Thơ, với hy vọng Quân Đoàn IV của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tiếp tục chiến đấu. Nhưng người anh hùng thất cơ lỡ vận của chúng ta chỉ có thể tìm thấy một thành phố ngơ ngác, hoảng loạn và tin tức về cái chết anh dũng của hai vị Tướng. Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường , Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh bảo vệ Cần Thơ cố gắng liên lạc với Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, với một hy vọng mỏng manh nào đó. Nhưng Chuẩn Tướng Hai cũng đã uống thuốc độc tử tiết chiều cùng ngày. Sư Đoàn 9 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc hãy còn đang đánh nhau với cộng quân tại chiến trường biên giới Mộc Hóa, rồi cũng tan hàng trong cay đắng. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc đánh dấu chấm hết một cách oan khuất và tức uất kể từ giây phút đó.
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, người anh hùng cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam trở về Sài Gòn. Ngày 9.5.1975 Thiếu Tướng Đảo bị gửi vào trại tù cộng sản. Người anh hùng của đất nước phải trả một cái giá quá đắt cho chiến thắng Xuân Lộc với mười bảy năm tù dài đăng đẵng. Tháng 4.1993, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đặt chân lên mảnh đất tự do Hoa Kỳ. Một trong những công việc trước nhất mà ông nghĩ tới, là đi tìm thăm lại tất cả những chiến sĩ thuộc cấp từng sát cánh chiến đấu với ông từ ngày ông về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Câu hỏi đầu tiên của ông lúc nào cũng là:”Các anh em có phiền trách gì tôi không ?”. Đã một phần tư thế kỷ trôi qua rồi mà Thiếu Tướng Đảo vẫn hãy còn rất băn khoăn, rằng ông đã có lỗi để cho chiến hữu của ông phải rơi vào cơn bão xoáy tang tương của đất nước đến như vậy. Nhưng câu trả lời bao giờ cũng là:”Anh em vẫn luôn kính yêu Hằng Minh (danh xưng chiến trường của Thiếu tướng) như ngày nào. Hằng Minh không có lỗi gì hết”. Thiếu Tướng Đảo đã dùng danh xưng chiến trường Hằng Minh để tưởng nhớ đến sự hy sinh dũng liệt của cố Trung Tá Lê Hằng Minh, là bào đệ của ông, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thủy Quân Lục Chiến, tại vùng Phong Điền, Thừa Thiên, trong một cuộc phản phục kích đẫm máu với quân giặc.

  Trong trại tù, Thiếu Tướng Đảo đã khảng khái nói với các cai ngục cộng sản:”Nếu các ông còn đang giam giữ nhiều chiến hữu sư đoàn của tôi, thì tôi mong là tôi sẽ là người sau chót bước ra khỏi đây. Nếu khác đi thì tôi không còn mặt mũi nào nhìn họ nữa”. Khi được hỏi về những ký ức ở Xuân Lộc, Thiếu Tướng Đảo đã trầm ngâm đôi giây phút:”Chiến đấu là một nghệ thuật.Chúng ta không phải dùng tay và chân thôi, mà còn trí óc nữa. Cho dù biết đang thua cuộc chiến tranh, tôi vẫn chiến đấu”. Với bản tính khiêm tốn , lời nhắn nhủ với tác giả sử gia Jay Veith, người đã bỏ công phục hiện lại diễn tiến Xuân Lộc, của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, được dùng làm lời kết cho thiên anh hùng ca này:'Xin đừng gọi tôi là anh hùng. Những chiến hữu của tôi đã hy sinh tại Xuân Lộc và những chiến trường khác mới chính là những anh hùng”.
Không cần thiết phải ngợi ca Thiếu Tướng Lê Minh Đảo là một anh hùng. Những dữ kiện của sự thật đã nói lên được điều đó.

Phạm Phong Dinh.
(Trích trong Thiên Hùng Ca Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)

Tài liệu tham khảo:
George J.Veith, Fighting is an Art: “The ARVN Defense of Xuan Loc, April 9 - 21, 1975”.
Đại Tá Hứa Yến Lến, Tuyến Thép Xuân Lộc, 12 Ngày Đêm Ác Chiến Với Cộng Sản Bắc Việt.

You are viewing the text version of this site.

To view the full version please install the Adobe Flash Player and ensure your web browser has JavaScript enabled.

Need help? check the requirements page.


Get Flash Player