MẸ TÔI

HAY LÀ THÂN PHẬN CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ VIỆT NAM TRONG THỜI LY LOẠN

Người Huế gọi Mẹ là Mạ. Tiếng Mạ thân thương, rất tự nhiên. Đứa bé lên hai khi bắt đầu học nói, tiếng đầu lòng là: Ma Ma. Không như Tố Hữu, tên thi nô cộng sản, đã trơ trẻn, gượng ép, nói bậy nói bạ trong một bài thơ ca tụng các lãnh tụ cộng sản của y, từ lão Hồ tặc đến Mao Xếnh Xáng, đến tên độc tài số một của nhân loại là Stalin. Cái tên khát máu, nghe nhắc đến là rợn người, nổi da gà, thế mà y viết:

“Vui biết mấy khi nghe con học nói,
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin.”

Tình thương yêu của đứa con đối với Mẹ là một thứ tình thương yêu thiêng liêng. Tình thương yêu đó cao quí và rất mãnh liệt. Thương cha, thương mẹ hơn cả thương yêu chính bản thân mình, dù rằng không bằng tình Mẹ thương con:

“Mẹ thương con biển trời lai láng,
 Con thương Mẹ, con tính từng ngày.”

Nhưng tên thi nô cộng sản Tố Hữu, vì mưu đồ chính trị, vì mặc cảm nô lệ, đã hồ đồ viết:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương Ông (Stalin) thương mười.

Mạ lấy chồng năm hai mươi tuổi, năm hai mươi mốt tuổi có con - đứa con trai đầu lòng và duy nhất là con. Năm hai mươi hai tuổi chồng đi tù vì hoạt động chống sự cai trị của thực dân Pháp. Và năm hai mươi ba tuổi chồng chết - chết trong tù, tại nhà lao Hõa lò, Hà Nội, mà sau này trong thời kỳ chiến tranh Quốc - Cộng, tù binh Mỹ vẫn gọi đùa là Khách sạn Hilton Hanoi.

Năm 1940, Mạ rời Đà Nẳng, nơi làm việc của Ba, rời căn nhà trong cư xá Hõa xa để trở lại Huế, về lại Làng Phong Lai, bên bờ Phá Tam Giang, quê của Mạ. Hai mẹ con sống trong sự đùm bọc yêu thương của Ông Bà Ngoại. Quê Nội là Làng Lai Hà cũng gần đó, chỉ cách một cánh đồng nhỏ, nên việc đi lại cũng thuận tiện.

Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền. Rồi một thời gian ngắn sau đó, thực dân Pháp trở lại. Toàn dân được lệnh tản cư. Phải tiêu thổ kháng chiến. Tòa nhà của Ngoại, gồm hai nhà ngói và ba ngôi nhà tranh bị phá hủy. Tường vách loan lổ, nhà cửa xiêu vẹo. Ông Bà Ngoại, các cậu, các dì, kể cả những người làm đều tản cư. Nhưng Mạ vẫn ở lại nhà, cùng với một vaì người bà con láng giềng để trông coi nhà cửa, ruộng vườn.

Năm 1946, một người cậu bị Tây bắt đem về Sịa, quận lỵ của Quận Quảng Điền rồi bị giết. Một mình Mạ đã xuống Sịa, thuê mướn vài người địa phương tìm xác cậu. Và trong đêm tối, đã bốc được xác cậu mang về làng an táng.

Tình hình quê ngoại lúc đó rất loạn lạc. Lính Tây ruồng bố thường xuyên. Gia đình ngoại vẫn còn tản cư xa trong vùng rừng rú. Trong lúc đó quê nội tương đối yên tĩnh. Tây vừa đóng một đồn cấp đại đội, và đã thiết lập xong chính quyền địa phương. Mạ gửi con ra sống với gia đình nội. Nhưng một biến cố đẩm máu đã xảy ra trong nhà Nội. Vào một đêm tối trời của tháng 5 năm1946, bọn khủng bố Việt Minh xông vào nhà Nội, chúng bắn, chúng giết tất cả những người lớn mà chúng bắt gặp. Chúng kết tội là Việt gian. Tổng cọng gần ba mươi mạng người. Họ là những bà con, láng giềng mổi đêm đến ngủ nhờ trong nhà Nội với hy vọng lính Tây sẽ không cướp phá, bắn giết những gia đình giàu có. Sau biến cố đó, Mạ đưa con trở lại nhà Ngoại.

Năm 1953, chiến cuộc lan rộng. Giặc Pháp cho máy bay ném bom, bắn phá bừa bải. Gia đình Ngoại một lần nữa phải tản cư. Nhưng Mạ vẫn ở lại nhà để trông coi ruộng vườn. Một người cậu bị Việt Minh bắt đưa lên rừng. Mạ đã đi tìm. Mạ mang đến cho cậu những bịch mắm ruốc, những gói cám rang, những viên thuốc ngừa sốt rét. Mạ bị bắt đi dân công, đi tải lương thực, tải đạn cho bộ đội Việt Minh hàng tháng trời. Mạ đã chịu bao vất vả hiểm nguy.

Khi Hiệp định đình chiến Genève được ký kết, vì nông nổi, con của Mạ đã theo đoàn người đi tập kết ra Bắc với lòng mong ước được tiếp tục việc học, măc dù một năm trước đó, con Mạ đã làm đơn xin ra Liên khu IV học, nhưng nhà cầm quyền địa phương không chấp thuận, vì con của Mạ là cháu của “địa chủ cường hào ác bá”. Sau chuyến đi buôn nguy hiểm từ Huế về, con của Mạ đã theo đoàn người tập kết lên đến dãy núi Trường sơn, đang chờ liên lạc dẫn đường. Mạ đã vội vã cùng vài người bà con tức tốc đuổi theo, và đã kịp kéo con trở lại.

Năm 1962, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, cũng muốn “chí làm trai dặm nghìn da ngựa”, con của Mạ đã sớm “xếp bút nghiêng theo việc đao cung”. Được tin con vào lính, Mạ đã khóc ròng nhiều đêm. Vì con là con một. Con một “như thóng mắm đầu giàn”. Thóng mắm để ở đầu giàn thì rất dể rớt, dể vở. Nhưng bốn năm lính trôi qua thật nhanh, vì chữ HIẾU, con làm đơn xin giãi ngũ, mặc dầu con đường binh nghiệp của con rất hanh thông. Con của Mạ đã trở về nguyên vẹn, dù đã vài lần bị thương. Rồi biến cố Tết Mậu Thân năm 1968. Con của Mạ lại “Áo nhung trao quan vũ từ đây. Phép công là trọng, niềm tây sá nào”. Khi tái ngũ, con của Mạ đã vào phục vụ một Binh chũng khét tiếng, đó là Biệt Động Quân. Một lần nữa, Mạ lại chạy đôn chạy đáo, Mạ nhờ người bác trước đây từng là quản gia cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, quen biết nhiều nghị sĩ, tướng lãnh, bày vẽ cách làm đơn xin cho con về phục vụ tại đơn vị không tác chiến. Mạ đã kêu đến Tổng Thống, kêu đến Nghị sĩ, Dân biểu, kêu đến Tổng trưởng Quốc phòng,…Nhưng Mạ đã không được toại nguyện. Đáng lẽ con một của góa phụ, hoặc là được miễn dịch, hoặc là chỉ phục vụ tại hậu phương, như quân đội của các nước văn minh. Cuốn phim: “Save Private Ryan” nổi tiếng được trình chiếu mấy năm trước đây đã nói lên điều đó. Nhưng con của Mạ vẫn tháng ngày cùng đơn vị “gối đất nằm sương”, đi hết cánh rừng này đến khu rừng khác để tiểu trừ cọng phỉ xâm lược.

Năm 1975, do sự phản bội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ, do những người lãnh đạo đất nước kém khả năng, quân cộng sản tiến chiếm Saigon. Viêt Nam Cộng Hòa sụp đổ. Quân Lực Viêt Nam Cộng Hòa, một đội quân hùng mạnh nhất Đông Nam Á Châu phải theo lệnh ông Tổng thống 48 giờ, kiêm Tổng Tư lệnh tối cao Quân đội, buông súng đầu hàng vô điều kiện quân xâm lược cộng sản Bắc Việt. Con của Mạ phải bị tập trung đi học tập cải tạo, tức là đi tù khổ sai tận ngoài rừng núi Việt Bắc âm u. Cũng như 35 năm trước, tại Thành Phố Huế quê hương, Mạ đã khóc khi tiển Ba vào tù - tù Pháp. Lấy chồng, những tưởng nương tựa vào chồng. Nhưng chồng vào tù, Mạ đã thay chồng dạy trẻ. Một lần nữa Mạ lại khóc. Mạ khóc cho chính Mạ, hay cho đứa con của Mạ?

Nước mắt tiển đưa chồng vào tù Pháp, nước mắt tiển đưa em đi tù Việt Minh. Bây giờ Mạ còn nước mắt để tiển đưa con đi tù Việt cộng?

Cuộc đời của Mạ, một cuộc đời gian truân, sầu tủi và chịu đựng! Ngày Mạ nhắm mắt lìa đời, con của Mạ, dâu của Mạ, các cháu của Mạ, không có một ai ở gần bên Mạ. Tất cả đang ở tận phương trời xa. Xa nửa vòng trái đất. Mạ đã không chịu rời quê cha, đất tổ. Mạ nhất định ở lại, cũng như trước đây trong chiến tranh, Mạ quyết bám lấy mãnh đất quê hương. Nhưng Mạ đã ra đi thật nhẹ nhàng trong tình thương yêu của bà con, bạn bè lối xóm. Tang lễ của Mạ đã được các thầy của ba chùa ở Hóc Môn, Phú Nhuận đến tụng kinh cầu siêu, đã được cả xóm tiển đưa ra nơi an nghỉ cuối cùng.
 
  Hôm nay nhằm Lễ Vu Lan, Mùa Báo Hiếu. Chúng con không còn Mạ để có dịp báo hiếu. Nhưng con xin nhắc lại một vài công đức của Mạ, những tháng ngày gian truân mà Mạ đã trải qua trong cuộc đời khốn khổ của Mạ. Cũng là cách để tưởng nhớ công đức của đấng sinh thành, cũng là cách báo hiếu vậy.

Michigan, Mùa Báo Hiếu 2005.
Bảo Định Nguyễn Hữu Chế

You are viewing the text version of this site.

To view the full version please install the Adobe Flash Player and ensure your web browser has JavaScript enabled.

Need help? check the requirements page.


Get Flash Player