Người Lính lẫm liệt Giữa tháng Tư hung hãn (*)

(*) Trích dẫn, rút gọn từ Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương, NXB Nắng Mới Miền Nam; CA, USA 2003)

- Về Tướng Quân Lê Minh Đảo và Những Người Lính Sư Đoàn 18 Bộ Binh
- Lữ Đoàn 5 Thiết Kỵ
- Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù
- Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân
- Địa Phương Quân và Nghĩa Quân , Tiểu Khu Long Khánh/VNCH

Những giòng chữ mở đầu bài viết là lời cám ơn chân thành đến các tác giả Nguyễn Đình Khánh (Úc), Nguyễn Đức Phương (Anh), Phạm Huấn (San José, USA), Phạm Phong Dinh (Canada), George J. Veith và Merle L. Pribbenow (Pennsylvania, USA) (1) đã trợ giúp một khối lớn tài liệu, tư liệu vô cùng phong phú, chính xác, có giá trị cao về mặt lịch sử, cũng như văn phong, văn ý sống động, súc tích - Khối tài liệu nhận được từ Tướng Quân Lê Minh Đảo: Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại tư gia vùng East Hartfort, Connecticut hôm 1 tháng 7, năm 2001.

Người Lính vẫn giữ chắc tay súng
giữa vũng lầy chính trị
Trong những ngày đầu tháng 4, 1975 Cựu Bộ trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã nay giữ chức vụ cố vấn riêng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã có mặt tại Singapore theo lời mời của Thủ Tướng Lý Quang Diệu. Cá nhân Cố Vấn Nhã rất ái mộ nhà lãnh đạo họ Lý, bởi vị nầy đã thành công trong quá trình cai trị (dẫu bị phê phán là độc tài, độc đảng theo thói tục của chính giới Tây Phương) qua việc thực hiện cho người dân Singapore những điều mà những chế độ cộng sản đông-tây từng hứa hẹn (và luôn hứa hẹn, sẽ có nơi địa đàng trần thế) từ khi nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên được thành lập sau cách mạng đẫm máu tại Nga năm 1917. Cuộc tuyên hứa kéo dài suốt Thế Kỷ 20, lây lan qua Thế Kỷ 21 như một điều bỡn cợt ác nghiệt nhất của lịch sử nhân loại thế giới, đã tráo đổi bằng mạng sống hằng chục triệu người tin tưởng (hoặc buộc phải tin tưởng vào sự khả tín của lời hứa); chỉ riêng Nga Sô-Viết đã trả giá hai-mươi triệu người mạng vong dưới ba-mươi mốt năm cầm quyền của Staline (1922-1953), và Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam hiện đang luôn trên đường quá độ thử nghiệm.

Trở lại việc Thủ Tướng Diệu mời Cố Vấn Nhã đến không phải do liên lạc bình thường giữa những chính khách; ông mời Nhã đến để trao gởi một "nguồn tin" quan trọng. Thủ Tướng Lý vào thẳng vấn đề: "Đừng để mất thì giờ vô ích, tôi mời ông tới đây bởi kết thúc (ở Việt Nam) sắp xẩy đến. Rockefeller vừa hỏi ý kiến tôi cũng như những vị lãnh đạo Á Châu khác, liệu chúng ta có cách gì để đưa ông Thiệu ra đi hay không."(2) Hóa ra chuyến viếng thăm không chính thức các nước Đông- Nam Á của Phó Tổng Thống Mỹ Rockefeller nhân dịp viếng lễ tang người lãnh đạo cuối cùng của thế hệ Thế Chiến thứ Hai, Thống Chế Tưởng Giới Thạch vừa qua (5 tháng 4) ở Đài Loan là để thông báo điều: "Đã đến lúc chính phủ Mỹ cần thay người cầm quyền ở Nam Việt Nam". Thủ Tướng Lý không nói thêm điều gì khác. Việc "ai" sẽ thay thế ông Thiệu là vấn đề của Sài Gòn với những người như Đại Tướng Minh, Khiêm, hoặc Kỳ.. Ông chỉ thúc dục cố vấn Nhã: "Hãy khẩn báo cho ông anh của ông như thế mà thôi. Riêng ông nên ở lại đây. Đừng về lại Sài Gòn, tôi sẽ lo liệu cho gia đình ông ra khỏi nước. Người Mỹ cũng đã xếp đặt sẵn một nơi cho ông Thiệu lưu trú.."(3) Không biết cuộc mạn đàm đã được thâu băng, cũng như nơi Dinh Độc Lập máy ghi âm mật (do văn phòng CIA Sàigòn gài)ø luôn hoạt động, Nhã thông báo liền cho Tổng Thống Thiệu nguồn tin chẳng mấy phấn khởi nầy; một phần ông cố vấn cũng đã hiểu ra thực tế: "Giới quân nhân, những tư lệnh chiến trường đã không còn tin tưởng nơi ông tổng thống vốn xuất thân từ quân đội nầy nữa." Cuộc rút bỏ Tây Nguyên sau ngày 10 tháng Ba (ngày quân đội Bắc Việt tổng tấn công Ban Mê Thuộc), tiếp theo lần di tản Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang (cuối tháng 3) với chuỗi thảm cảnh kinh hoàng của dân và lính vượt khỏi tất cả những dự kiến; làm tan vỡ sức chiến đấu, phá hũy quân trang cụ, vũ khí của hai Quân Khu I và II đã bày ra điều cùng cực phi lý và tàn nhẫn: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa là một người lãnh đạo tệ hại về cả chính trị lẫn quân sự.

Ngày 12 tháng 4 Nam Vang thất thủ, người lãnh đạo Sirik Matak cùng tất cả bộ trưởng của chính phủ Long Boret (chỉ trừ một người thuận di tản theo đề nghị của toà Đại Sứ Mỹ) là những nạn nhân đầu tiên của cách hành hình man rợ hơn cả thời trung cổ do đám đao phủ Kmer Đỏ hành quyết. Họ không chết do bất ngờ, vì không lường được tính ác ghê rợn của lực lượng cộng sản Khmer, mà hơn ai hết, vị cố vấn chính trị của tổng thống Campuchia đã có lá thư tuyệt mệnh gởi đến Đại Sứ Hoa Kỳ Dean John với lời lẽ quyết liệt bi tráng như sau: "Kính gởi Ngài Đại Sứ và các Bạn... Tôi chân thành cảm ơn lá thư ngài chuyển tới với đề nghị giúp tôi phương tiện đi đến vùng tự do.. Nhưng hỡi ơi, tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như thế được.. Xin ngài cứ ra đi, và tôi cầu chúc ngài cùng đất nước Hoa Kỳ có được nhiều điều hạnh phúc dưới cõi trời nầy. Nếu tôi có phải chết thì cũng chết trên đất nước mà tôi vô cùng yêu quý dẫu cho đấy là điều bất hạnh, nhưng chúng ta ai chẳng sinh ra và một lần mất đi. Tôi chỉ phạm một lỗi lầm là đã tin vào ngài và tin vào những người Bạn Mỹ." (4) Lời báo động từ người thân cận Hoàng Đức Nhã cùng tình thế bi thảm của Campuchia, lẫn thực tế tuyệt vọng của miền Nam khi phòng tuyến Phan Rang bị tan vỡ buộc Tổng Thống Thiệu phải hiểu ra rằng: Những lá thư bảo đảm của Tổng Thống Mỹ Nixon với lời lẻ trịnh trọng.."Tự do và độc lập của Việt Nam Cộng Hòa luôn là mục tiêu tối thượng của chính sách đối ngoại của nước Mỹ. Tôi hằng dốc sức thực hiện mục ấy suốt cuộc đời chính trị của bản thân.."(5) đã không còn mảy may có giá trị, vì người viết như giòng chữ (cho là thực tâm) kia đã đi ra khỏi Tòa Bạch Ốc với tình cảnh của kẻ "phạm tội" sau vụ Watergate. Người thay thế ông, tổng thống không do dân cử, Gerald Ford lại bị trói buộc toàn diện bởi Nghị Quyết Xử Dụng Vũ Lực Chiến Tranh đã được quốc hội phê chuẩn từ tháng 11, 1973, cho dù Tổng Thống Nixon đã dùng quyền phủ quyết bác bỏ. Nghị quyết nầy thật sự là phần hiện thực hiến định của đạo luật cắt bỏ quỹ "Hoạt động tác chiến" vốn được dùng để yểm trợ cho chiến cuộc Đông Dương (6) - Tất cả điều khoản, đạo luật nầy đã được lưỡng viện Quốc Hội Mỹ phê chuẩn thi hành sau khi ký Hiệp Định Paris (27 tháng 1, 1973) và Thông Cáo Chung của Kissinger cùng Lê Đức Thọ, ngày 13 tháng 7 cùng năm để "thúc đẩy các bên ký kết thi hành hiệp định "Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam (sic)."

Người gọi là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa tên Nguyễn Văn Thiệu nhất quyết không để thân phận mình kết thúc tan thương oan khốc như tình cảnh của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng không muốn "hiển thánh vị quốc vong thân" trước nòng súng của binh đội cộng sản. Ông dư biết "những kẻ thù chính trị” sẽ không để cho ông yên thân, ông lại càng ngao ngán tình đời vì Cựu Phó Tổng Thống Kỳ xuất hiện lại với một khẩu P38 cặp kè bên hông, hiện thực lời răn đe "Phải làm một cái gì, và Sài gòn sẽ là một Stalingrad" như trong lần nói chuyện ở Trường Chỉ Huy Tham Mưu tại căn cứ Long Bình; nhưng cốt yếu là đối với người bạn Mỹ, người “bạn” mà vị chính khách Sirik Matak bên nước láng giềng Campuchia đã phẫn uất kêu lên lời tán thán như trên vừa kể. Thế nên, Nguyễn Văn Thiệu phải ra tay trước với tố cáo: "Người Mỹ đòi hỏi chúng ta làm một việc bất khả thể. Tôi đã từng nói với họ: Các ông đòi chúng tôi làm một việc mà các ông không làm nỗi với nửa triệu quân hùng mạnh, với những viên chỉ huy tài giỏi, và tiêu hơn 300 tỷ (Mỹ-kim) trong hơn sáu năm... Rồi bây giờ tương tự như các ông chỉ cho tôi 3 đồng, bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất, thuê phòng khách sạn 30 đồng một ngày, ăn bốn, năm miếng bíp-tếch, uống bảy, tám ly rượu vang mỗi ngày. Đấy là một chuyện hết sứ vô lý."(7) Sau khi so sánh cuộc chiến đấu của một dân tộc với cách thức “đi ăn tiệc” với giá biểu kỳ cục kể trên, ông cao giọng tố cáo người “bạn quý” không e dè: "..Các ông để mặc chiến sĩ chúng tôi chết dưới mưa đạn pháo. Đấy là một hành động bất nhân của một đồng minh nhân."(8) Ông chát chúa lập lại: "Từ chối giúp một đồng minh và bỏ mặc họ là một hành vi bất nhân."(9) Những giới chức cao cấp của Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất (đối diện với Dinh Độc Lập, nơi ông tổng thống đang nói cho buổi truyền hình trực tiếp) theo dõi đủ nội dung của bài nói chuyện với những lời lẻ nặng nề như trên (bài nói chuyện của một người đang cơn nóng giận chứ không phải ngôn ngữ ngoại giao của một vị nguyên thủ quốc gia, một chính khách lãnh đạo). Tuy nhiên, người Mỹ luôn là một người "bạn tốt". Họ đã chuẩn bị cho ông một nơi an toàn và cách ra đi kín đáo (cũng không thể kín đáo hơn), thích hợp với "danh dự của một vị nguyên thủ" vì dù gì ông đã giúp họ cởi bỏ gánh nặng chiến tranh qua lần rút quân có “tính danh dự" khỏi Việt Nam theo điều khoản của Hiệp Định Paris.

Tuy nhiên, cuối cùng lời của Nguyễn Văn Thiệu cũng có phần chính xác như câu nói bất hủ của ông: "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm", vì quả thật pháo đang rơi xuống, đang trút xuống như mưa lũ trên đầu người lính, cũng trên đầu người dân. Đạn pháo, hỏa tiễn của binh đoàn quân cộng sản Bắc Việt (thuần là đơn vị quân đội Hà Nội) đang dội xuống như mưa lũ ở Long Khánh - Cửa ngỏ đông- bắc dẫn vào Sài Gòn - nơi bản doanh Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo giữ chức tư lệnh. Vị tướng lãnh thăng cấp cuối cùng của quân lực đã chứng thật cùng thế giới và lịch sử: Người Lính nào đã quyết tâm chiến đấu thực hiện nghĩa vụ Bảo Quân An Dân nơi Miền Nam. Và sự sụp vỡ ngày 30 tháng Tư, năm 1975 hoàn toàn vượt khỏi tầm đạn bắn ra từ nòng súng chiến đấu của Quân Lực Cộng Hòa.

Mặt đối mặt qua bãi lửa
Bình nguyên Tỉnh Long Khánh trãi rộng trên vùng rừng miền đông Nam Bộ, tả ngạn sông Đồng Nai, trước 1954 vốn là Quận Xuân Lộc thuộc Tỉnh Biên Hòa. Năm 1955 Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa thành hình những đơn vị hành chánh mới, Xuân Lộc tách ra thành một tỉnh riêng với thủ phủ là vị trí của quận đường cũ nay được mang thêm danh xưng là Quận Châu Thành Tỉnh Long Khánh. Long Khánh nằm trên ngã Ba của Quốc Lộ 20 (đi Đà Lạt) và Quốc Lộ I, lối ra miền Trung, đường đi Hàm Tân, Phan Thiết. Sau thành công đánh chiếm Tây Nguyên (Vùng II) và Vùng I Chiến Thuật do sự rút bỏ hỗn loạn của quân đội Miền Nam (mà thật sự chỉ do quyết định toàn quyền, độc nhất của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu); phía cộng sản rút kinh nghiệm thất bại từ Mậu Thân (1968) và Tổng công kích Xuân-Hè 1972 (thất bại do phân tán lực lượng trên nhiều mục tiêu, lẫn lộn giữa "Điểm: Mặt trận chính" và "Diện-Mục tiêu phụ") nên chiến dịch năm nay, 1975, Bộ Tổng Quân Ủy quân đội Miền Bắc quyết tâm tiêu diệt Miền Nam qua chiến thuật tập kích tấn công từ một điểm xong mở rộng ra, tránh giao tranh nếu gặp kháng cự mạnh, để tất cả đồng nhất tiến về Sài Gòn: Mục tiêu cuối cùng phải đánh chiếm của cuộc chiến tranh "giải phóng ngụy danh" điều hành, chỉ huy từ Hà Nội.
“...Trung Ương Đảng ra lệnh cho Trung Ương Cục Miền Nam cùng tất cả lực lượng vũ trang phải hoàn thành công cuộc giải phóng Miền Nam.. Xung phong tiến lên tấn công Sài Gòn, mà hiện tại kẻ thù đang tan rã, không còn sức mạnh chiến đấu.. Chúng có năm sư đoàn, chúng ta có mười-lăm sư đoàn, chưa kể đến lực lượng hậu bị chiến lược. Chúng ta phải chiến thắng bất cứ giá nào: Đấy là quan điểm của Trung Ương Đảng. Khi tôi (Lê Đức Thọ) rời miền Bắc, các đồng chí ở Bộ Chính Trị đã nói rằng: "Đồng chí phải đoạt thắng lợi, đồng chí chỉ trở về với chiến thắng". Lê Đức Thọ, Chính ủy chiến dịch đã nhận lệnh như thế, và phổ biến nội dung đến với tất cả lực lượng vũ trang đang có mặt tại miền Nam. Chiến Dịch Hồ Chí Minh được đặt tên qua công điện 37/TK do Lê Đức Thọ ấn ký hiện thực quyền lãnh đạo tối cao của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản đối với toàn bộ lực trang vũ trang tham chiến tại miền Nam bao gồm Mười- lăm sư đoàn quân chính quy cộng sản Bắc Việt. Danh hiệu nầy cần phải viết đủ để trả lời cho những quan điểm chiến lược vạch nên từ Tòa Bạch Ốc, Ngũ Giác Đài, được phổ biến khắp hệ thống truyền thanh, truyền hình thế giới trong bao năm qua: "Chiến tranh Việt Nam là do lực lượng Việt cộng (những người "quốc gia yêu nước Miền Nam") nổi dậy lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa); nếu lực lượng của Hà Nội có kể đến chăng thì cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ, chỉ đóng vai trò "yểm trợ" vì "98% của vấn đề (chiến tranh) là ở Miền Nam, chứ không là Miền Bắc"(10) Bởi quan niệm như thế kia, nên hôm nay, sau lần ký Hiệp Định Paris hai năm, ba tháng, tình hình quân sự hoá nên tồi tệ phải được xem như một điều tất nhiên. Và sự kiện Lê Đức Thọ được chọn lựa giữ nhiệm vụ chính ủy chiến dịch hẳn không phải do tình cờ hay vô cớ - Bởi đấy là kẻ được thếâ giới trao tặng giải gọi là “Nobel Hòa Bình” vì đã cùng Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Kissinger thiết lập cái gọi là hiệp định "Tái lập hòa bình tại Việt Nam" kia - Thọ được lựa chọn như là cách đánh giá ngạo mạn của Hà Nội đối với giải thưởng kia, và là trả lời xấc xược đối với những kẻ gọi là “lực lượng yêu chuộng hòa bình” trên toàn thế giới: Những đám đông phản chiến xuống đường ở Ba-Lê, Bá-Linh, Hoa Thịnh Đốn.. Những “nhà hòa bình”, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Giáo Hoàng La Mã, triết gia Bertrand Russell, nhà văn J. P. Sartre.. Thế nên, chúng tôi cũng không đủ nhẫn tâm, trân tráo để viết hoa nên nhóm danh tự định nghĩa của hiệp định kể trên, vì nếu thế sẽ như vô tình "a tòng tham dự vào một thành tích lừa lọc”- Cũng là thái độ khinh miệt, đùa cợt lên nỗi khổ đau của toàn Dân Tộc Việt - Khối dân bi thảm luôn cầu mong được sống một ngày bình an qua gần nửa thế kỷ bom đạn. Chúng ta trở lại chiến trường với Tướng Quân Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa. Ở mặt trận Long Khánh.

Ngay từ ngày đầu của năm 1975, Sư Đoàn 18 đã phải đối phó với tình trạng căng quân ra giữ vững vùng lãnh thổ trách nhiệm, cùng tập trung lực lượng để chiếm lại phần đất đã bị lấn chiếm. Tiếng gọi là một sư đoàn, nhưng Tướng Đảo chưa hề tập trung đủ lực lượng cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn, bởi từ đầu tháng Ba 75, Trung Đoàn 48 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 Bộ Binh trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn cũng chung Vùng III Chiến Thuật với Sư Đoàn 18. Thế nên, khi trận chiến bắt đầu 9 tháng 4, 1975 ông chỉ có một lực lượng sư đoàn (trừ) gồm những đơn vị:
- Chiến đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy gồm Trung Đoàn 43 (trừ Tiểu Đoàn 2/43 đóng giữ các cao điểm quan trọng) gồm Tiểu Đoàn 2/52 (cơ hữu của Trung Đoàn 52); Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Phải nói qua đơn vị kỳ lạ nầy với sự tồn tại tưởng như huyền thoại. Tiểu Đoàn 82 vốn thuộc Quân Khu II Tây Nguyên, khi mặt trận Ban Mê Thuộc bị vỡ, Thiếu Tá Long vừa đánh vừa rút lui xuống đồng bằng. Từ Ban Mê Thuộc, Long đưa đơn vị vượt Cao Nguyên Di Linh băng rừng về Bảo Lộc (nằm trên Quốc Lộ 20 khoảng giữa đường đi Đà Lạt), ông tiếp tục băng rừng theo hướng tây-nam về Long Khánh. Ngày 6 tháng 4 (gần một tháng sau trận Ban Mê Thuộc, bắt đầu ngày 10 tháng 3), Tướng Đảo nhận được một công điện khẩn từ các toán tiền đồn.. “Một đơn vị lạ với y phục Biệt Động Quân xuất hiện.” Sau khi kiểm chứng với Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân/ Quân Khu III (Biên Hòa), Tướng Đảo dùng trực thăng bốc toán quân của Thiếu Tá Long (một tiểu đoàn biệt động nay chỉ còn khoảng 200 người) về đặt thuộc quyền xử dụng của mình, và sau nầy đơn vị nầy đã chứng tỏ sức chiến đấu kiên cường của người lính biệt động. Lực lượng Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi Quận Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng.

- Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm Trung Đoàn 52 (trừ Tiểu Đoàn 2/52 tăng phái như kể trên) và các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh thống thuộc hành quân. Đơn vị nầy trấn giữ dọc Quốc Lộ 20 (Bắc-Tây Bắc Long Khánh) từ Kiệm Tân (cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống) đến Ngã Ba Dầu Giây (giao điểm của hai Quốc Lộ I và 20), nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân, thị xã cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc.

- Trước khi trận chiến bùng nỗ lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu viên tư lệnh quân đoàn, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48; khi nhận được trung đoàn nầy về, Tướng Đảo xử dụng đơn vị để trấn giữ mặt đông thị xã - đoạn đường từ Xuân Lộc đến thị trấn Giá Rai, mặt bắc của Ngã Ba Ông Đồn đường đi vào Quận Tánh Linh, Tỉnh Bình Tuy, trung tâm của mật khu Rừng Lá mà từ đầu khởi cuộc chiến (1960) đã là một vùng bất khả xâm phạm do đấy là hành lang chuyển quân từ đồng bằng, vùng biển (Vùng III của VNCH) lên miền Tây Nguyên (Vùng II của VNCH)

You are viewing the text version of this site.

To view the full version please install the Adobe Flash Player and ensure your web browser has JavaScript enabled.

Need help? check the requirements page.


Get Flash Player