Nguyễn Phúc Sông Hương là bút hiệu của thiếu tá Nguyễn Phúc, người chỉ huy Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 48 trong trận Xuân Lộc tháng 4 năm 1975. Bài ký “Người lính đeo càng trực thăng” của ông kể lại hành trình của một người đồng đội, thiếu tá Nguyễn Hữu Chế, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/43, trong những ngày rút khỏi mặt trận. Bản tóm lược dưới đây giữ lại cốt truyện chính và nên được đọc cùng thiên hồi ký Lui Binh, do chính nhân vật viết từ góc nhìn của mình.

Đêm ánh đèn lạ

Khoảng ba giờ sáng đêm 20 rạng sáng 21 tháng 4, từ căn cứ pháo binh Núi Thị cách thị xã Xuân Lộc chừng năm cây số, tiểu đoàn trưởng thấy đèn xe sáng rực trên các con đường trong thành phố. Trong suốt cuộc chiến, thị xã luôn chìm trong bóng tối, chỉ thỉnh thoảng lóe sáng vì pháo kích, nên cảnh này rất bất thường. Ông gọi cho bộ chỉ huy lữ đoàn Nhảy Dù, đơn vị mà tiểu đoàn được tăng phái, và biết rằng đó là các đoàn xe của đối phương đang tiến vào thị xã.

Điều này làm ông lo ngại: không nghe tiếng súng giao tranh, ông tự hỏi có phải toàn bộ lực lượng trú phòng đã đầu hàng. Ông chưa biết rằng một cuộc rút quân đã được ban lệnh, và vì phải nhờ chính mình gọi hỏi mới biết, ông tức giận vì tiểu đoàn suýt bị bỏ quên. Nhưng ông kìm lại vì còn một toán trinh sát ở tiền đồn trên Núi Ma cần được gọi về. Ông ra lệnh phá hủy các khẩu pháo 155 ly trong lúc chờ.

Xuống núi và đột phá

Hơn bốn giờ sáng, các toán tiền đồn về đủ, hơn ba trăm người của tiểu đoàn xuống núi chia làm hai cánh, một do tiểu đoàn trưởng chỉ huy và một do tiểu đoàn phó. Họ phá được vòng vây quanh Núi Thị rồi hướng về Bà Rịa, nhưng trong các rừng cao su hầu như đâu cũng có lực lượng đối phương. Tác giả mô tả cảnh người lính nép sau gốc cây, nhìn rõ những bóng người ngay trước mặt mà không thể nổ súng, vì phải tránh lộ vị trí. Những người bị thương cắn răng chịu đau.

Sáng hôm sau, tiểu đoàn trưởng liên lạc được với chỉ huy Trung Đoàn 52 từ một chiếc trực thăng. Việc rút lui, theo tác giả, là điều khó nhất của người lính, vì phải vừa quay lưng vừa chịu đạn từ nhiều phía. Có lúc ông lệnh cho binh sĩ dùng thân cây cao su và mũ sắt, cào đất bằng mười ngón tay để dựng chỗ chống trả. Nhưng đạn dược cạn dần, lực lượng đối phương quá đông, và các toán lần lượt tách ra.

Còn lại hai mươi tám người

Cuối cùng, ông quyết định cho đơn vị phân tán thành từng tiểu đội và bán tiểu đội để dễ luồn lách. Bên cạnh ông chỉ còn lại hai mươi bảy người, phần lớn là lính trang bị súng ngắn thuộc bộ chỉ huy tiểu đoàn, cùng pháo thủ và công binh. Tiếng loa của đối phương gọi đích danh ông, khi thì dụ dỗ, khi thì đe dọa, hàng trăm lần, làm nhiều người dao động.

Có lúc ông nghĩ đến việc để các thuộc cấp ra hàng còn mình tìm đường khác, nhưng họ từ chối. Một hạ sĩ quan công binh nói đơn vị mình không hổ thẹn với chữ “chiến đấu”; người lính truyền tin và người lính trinh sát cuối cùng cũng nói họ chỉ ngã khi ông ngã. Suốt ba đêm bốn ngày, hai mươi tám người đi cùng nhau, dìu người yếu, không bỏ ai lại, không ăn xác thú chết dù rất đói và khát.

Tiếng gọi trên máy vô tuyến

Có lúc họ nghe trực thăng bay cao và tiếng chỉ huy Trung Đoàn 43 gọi tìm người thuộc cấp, nhưng không dám trả lời vì sợ đối phương bắt được tần số. Đến ngày thứ tư, nhiều người gần như không đi nổi. Khi liên lạc bằng máy PRC-25 được thiết lập, họ được dẫn tới một khoảng trống. Ba chiếc trực thăng UH-1B hạ xuống, người khỏe cõng người yếu chạy ra. Luồng gió từ cánh quạt mạnh đến mức nhiều người loạng choạng ngã, nhưng cả nhóm cuối cùng đều lên được máy bay. Tác giả kể rằng những người lính bên trong kêu lên “Thiếu tá ơi” cùng lúc, và xạ thủ trực thăng khép mắt như muốn ghi nhớ cảnh ấy.

Về Long Bình

Chiều 24 tháng 4, tại bộ tư lệnh sư đoàn ở Long Bình, tướng Lê Minh Đảo ôm lấy ông và đề nghị gắn cấp hiệu trung tá. Ông từ chối, vì các binh sĩ của mình đã không còn đủ mặt. Vị tư lệnh hiểu và hẹn trình lại sau. Cuối bài, tác giả cho biết nhân vật hối hận vì đã buột miệng trách chỉ huy lữ đoàn Dù lúc mới vào phòng họp, vì sau đó nghĩ lại thấy chỉ huy ấy cũng phải lo bảo vệ dân chúng và chịu nhiều tổn thất.

Điểm cần lưu ý

Đây là một bài ký mang tính văn chương, ghi nhận lòng gắn bó giữa chỉ huy và binh sĩ. Vì do người khác thuật lại, bài có thể khác ở vài chi tiết so với hồi ký của chính nhân vật, điều thường gặp khi một sự kiện được nhiều người kể. Đối chiếu hai bài sẽ cho cái nhìn đầy đủ hơn.