Sư Đoàn 18 Bộ Binh là một đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đóng ở vùng Long Khánh, phía đông Sài Gòn. Bài này tóm lược quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, những thành tích được ghi nhận và danh sách các vị tư lệnh, dựa trên bản lưu trữ của trang tư liệu do cựu quân nhân của sư đoàn lập ra.

Từ Sư Đoàn 10 đến Sư Đoàn 18
Đơn vị được thành lập chính thức vào ngày 16 tháng 5 năm 1965 tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh, lúc đầu mang tên Sư Đoàn 10 Bộ Binh. Nòng cốt gồm ba trung đoàn là Trung Đoàn 43, Trung Đoàn 48 và Trung Đoàn 52 Biệt Lập, kèm theo các đơn vị yểm trợ và kỹ thuật. Ít lâu sau, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh cũng gia nhập và trở thành thành phần cơ hữu.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, theo đề nghị của vị tư lệnh đương nhiệm, chuẩn tướng Đỗ Kế Giai, sư đoàn đổi tên thành Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Từ năm 1965 đến 1969, sư đoàn phụ trách Khu 33 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu.
Huy hiệu
Huy hiệu của Sư Đoàn 10 có nền xanh nhạt tượng trưng cho bầu trời, hình núi Chứa Chan màu xanh lá, mười ngôi sao vàng xếp vòng quanh và hai đường kẻ tượng trưng cho sông La Ngà. Huy hiệu của Sư Đoàn 18 dùng nền xanh nhạt biểu thị bầu trời, màu xanh đậm biểu thị đất, và hình cung tên lấy cảm hứng từ truyền thuyết nỏ thần thời An Dương Vương.
Cơ cấu lực lượng
Trung Đoàn 43
Đây là đơn vị kỳ cựu, thoát thai từ Trung Đoàn 404 thuộc Sư Đoàn 15 Khinh Chiến, thành lập ở Phan Thiết. Trung đoàn từng tham gia nhiều chiến dịch ở miền Nam, trong đó có việc dẹp lực lượng Bình Xuyên và loạn Ba Cụt ở miền Tây. Trước khi vào sư đoàn, trung đoàn là đơn vị biệt lập thuộc Biệt Khu Bình Lâm, đặt bản doanh ở Di Linh, Lâm Đồng, hoạt động tại ba tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận và Bình Tuy. Hậu cứ sau này nằm ở Long Khánh. Năm 1974, Tiểu Đoàn 2 của trung đoàn được tổng thống đương thời tuyên dương công trạng trước quân đội. Nhiều sĩ quan lần lượt chỉ huy trung đoàn, người cuối cùng là đại tá Lê Xuân Hiếu.
Trung Đoàn 48
Trung Đoàn 48 được đổi từ Trung Đoàn 32 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh vào ngày 16 tháng 3 năm 1963, rồi cùng hai trung đoàn kia hợp thành sư đoàn năm 1965. Địa bàn hoạt động rất rộng, từ Bến Tre, Cà Mau ở Vùng IV Chiến Thuật đến nhiều địa danh ở Vùng III như Đồng Xoài, Phước Long, Bình Giả, Đất Đỏ, Trảng Bàng. Trung đoàn cũng tham gia tái chiếm Đồi Gió và phi trường Quản Lợi ở An Lộc, khai thông Quốc Lộ 13 và Quốc Lộ 15 sau lệnh ngưng bắn đầu năm 1973. Hậu cứ đặt tại căn cứ Long Giao, cách chi khu Xuân Lộc khoảng tám cây số về phía nam. Vị chỉ huy cuối cùng là trung tá Trần Minh Công.
Trung Đoàn 52
Trước khi vào sư đoàn, đơn vị này là Trung Đoàn 135 Địa Phương đóng ở Sài Gòn. Khoảng năm 1965-1966, Tiểu Đoàn 1 của trung đoàn có một trận thắng lớn ở vùng Võ Xu – Võ Đắc, tỉnh Bình Tuy, sau đó nhận huy chương từ phía Hoa Kỳ trong buổi lễ năm 1967 do tướng Westmoreland đại diện trao. Năm 1974, tiểu đoàn này lại được tuyên dương nhờ bắt được xe tăng đối phương ở An Điền, Bến Cát. Trong tháng 4 năm 1975, Tiểu Đoàn 2 giao chiến gần Suối Tre và Tiểu Đoàn 3 được nhắc đến sau trận Đồi Móng Ngựa. Hậu cứ ở núi Chứa Chan, và vị trung đoàn trưởng cuối cùng là đại tá Ngô Kỳ Dũng.
Pháo binh, thiết giáp và yểm trợ
- Pháo binh gồm Tiểu Đoàn 180 trang bị pháo 155 ly và các tiểu đoàn 181, 182, 183 trang bị pháo 105 ly, hậu cứ ở Long Bình.
- Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh dùng xe tăng M41 và thiết vận xa M113.
- Các đơn vị chuyên môn gồm quân y, truyền tin, công binh, tiếp vận, vận tải, quân cảnh và tổng hành dinh, cùng một số biệt đội quân báo, tác chiến điện tử và kỹ thuật.
Thành tích được ghi nhận
- Năm 1972, quân kỳ sư đoàn được thưởng một Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- Năm 1974, sư đoàn được tuyên dương là “Đơn Vị Xuất Sắc” của quân lực.
- Năm 1975, quân kỳ nhận thêm ba Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
Tổng cộng quân kỳ nhận bốn lần huy chương này và được mang dây biểu chương màu Quân Công Bội Tinh.
Các vị tư lệnh
| Tư lệnh | Thời gian |
|---|---|
| Đại tá Nguyễn Văn Mạnh | 16/05/1965 – 10/08/1965 |
| Chuẩn tướng Lữ Lan | 10/08/1965 – 15/09/1966 |
| Đại tá Đỗ Kế Giai | 15/09/1966 – 20/08/1969 |
| Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ | 20/08/1969 – 04/04/1972 |
| Đại tá Lê Minh Đảo | 04/04/1972 – 30/04/1975 |
Mỗi vị sau này đều được thăng cấp tướng, nhiều người lên đến trung tướng hoặc thiếu tướng. Để biết những trận đánh quan trọng nhất của sư đoàn, mời xem chiến sử và danh mục tài liệu về trận Xuân Lộc 1975.