Bài “Tuyến thép Xuân Lộc” là một trong những tài liệu dài nhất trong kho tư liệu của Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Tác giả là đại tá Hứa Yến Lến, nguyên tham mưu trưởng hành quân của sư đoàn, và bản viết lần thứ hai được cho là đã qua duyệt của tướng Lê Minh Đảo. Bài được chia thành năm phần; bản tóm lược này nói về phần đầu, gồm lời nói đầu, bối cảnh chiến cuộc và công tác chuẩn bị tại Xuân Lộc. Đây là hồi ký của người trong cuộc và phản ánh quan điểm của họ, nên cần đọc kèm các nguồn khác.

Cấu trúc của bài

Bản mục lục của tác giả có năm phần: tiến trình chiến cuộc, tuyến thép Xuân Lộc, phần cuối, nhận xét và cảm tưởng của tư lệnh sư đoàn. Phần hai bao gồm vị trí địa lý, chuẩn bị chiến trường, tương quan lực lượng, diễn tiến mười hai ngày đêm, vấn đề quả bom được sử dụng, lệnh rút khỏi Xuân Lộc, cuộc hành quân lui binh và tổn thất.

Mục đích của người viết

Trong lời nói đầu, tác giả cho biết ông viết để nhớ lại thắng lợi cuối cùng của quân đội miền Nam, đặc biệt là sư đoàn và các đơn vị tăng phái gồm Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, địa phương quân và nghĩa quân của tiểu khu Long Khánh, cùng hỏa lực không quân của Sư Đoàn 3 Không Quân. Theo ông, bên ngoài thường hiểu sai rằng miền Nam không chịu chiến đấu và vì thế sụp đổ nhanh sau khoảng năm mươi lăm ngày đêm. Ông muốn chứng minh điều ngược lại. Phần kết lời nói đầu là lời tưởng niệm những người đã hy sinh và thăm hỏi các gia đình thương phế binh, cô nhi, quả phụ.

Bối cảnh chiến cuộc theo tác giả

Tác giả mô tả chiến cuộc từ mùa xuân năm 1972, khi phía Bắc Việt Nam huy động phần lớn các sư đoàn chính quy của mình cho một cuộc tổng tấn công với xe tăng và pháo binh. Ông chia thành ba hướng:

  1. Quảng Trị (Vùng 1): nhiều sư đoàn và trung đoàn vượt khu phi quân sự theo Quốc Lộ 1, trong khi một hướng khác đi từ thung lũng A Sầu về phía Huế.
  2. Cao Nguyên (Vùng 2): nhắm vào Pleiku và Kon Tum, có các hướng phụ ở Bình Định để ghìm chân lực lượng miền Nam.
  3. Biên giới Việt-Miên (Vùng 3): nhắm vào Lộc Ninh và An Lộc, với ý đồ theo Quốc Lộ 13 tiến về Sài Gòn.

Tác giả đánh dấu các mốc trận đánh quan trọng: Quảng Trị (30/3 đến 16/9/1972), An Lộc (13/4 đến 12/6/1972), Phước Long (13/12/1974 đến 6/1/1975), Ban Mê Thuột (đầu tháng 3/1975) và Phan Rang (7 đến 20/4/1975). Ông trích lời một nhà lãnh đạo phía Bắc trong một tạp chí quân sử xuất bản năm 1988 để cho thấy kế hoạch dẫn tới chiến dịch cuối cùng nhằm vào Sài Gòn, với gần năm quân đoàn tiến từ nhiều hướng và các đơn vị đặc công, biệt động hỗ trợ trong nội thành. Ông cũng liệt kê bộ chỉ huy chiến dịch và năm mục tiêu ưu tiên tại Sài Gòn.

Xuân Lộc nằm ở đâu và vì sao quan trọng

Tác giả dành một mục để nói về địa lý. Xuân Lộc là tỉnh lỵ Long Khánh, nằm trên Quốc Lộ 1 ở phía đông bắc Sài Gòn khoảng tám mươi cây số, lập năm 1957. Địa hình phần lớn là đất đỏ, núi thấp, rừng thưa, vườn cây ăn trái và đồn điền cao su. Đây cũng là căn cứ của toàn bộ sư đoàn, với bộ binh, thiết giáp, pháo binh và đơn vị kỹ thuật.

Giá trị chiến lược nằm ở chỗ thị xã là ngã ba Quốc Lộ 1 và Quốc Lộ 20, tức cửa ngõ từ cao nguyên và miền Trung vào Sài Gòn, đồng thời che chắn phi trường Biên Hòa. Về mặt chiến thuật, vị trí này nằm giữa hai chiến khu và nhiều mật khu ở Phước Tuy, trên tuyến tiếp tế đường biển của phía đối phương.

Chuẩn bị chiến trường

Theo tác giả, sư đoàn nắm khá chắc tình hình nhờ tin tình báo, lời khai tù binh, ảnh chụp từ trên không và đặc biệt là một biệt đội kỹ thuật năm người thuộc Bộ Tổng Tham Mưu chuyên nghe và dò đài đối phương, giải mã một số mật điện. Dựa vào đó, sư đoàn chuẩn bị chu đáo trước khi cuộc tấn công nổ ra.

Những việc được nêu gồm:

  • Tổ chức học tập thường xuyên để giữ vững tinh thần binh sĩ và huấn luyện tại chỗ kỹ thuật chống xe tăng, kể cả cách dùng vũ khí M72.
  • Yêu cầu các sĩ quan sinh hoạt sát với binh sĩ, tạo niềm tin rằng người chỉ huy cùng sống chết với mình.
  • Bố trí vị trí chiến đấu ở rìa thị xã với công sự vững để giảm thiệt hại do pháo kích.
  • Giao Trung Đoàn 43 chiếm lại và giữ các điểm cao quanh thị xã, vì kinh nghiệm cho thấy đối phương hay dùng đồi cao để quan sát và điều chỉnh pháo.

Phần diễn biến mười hai ngày đêm nằm ở các phần sau của bài. Để xem thêm bối cảnh, mời đọc chiến sử và lược sử sư đoàn.